Công ty CP Dịch vụ Công nghệ và Đào tạo Phúc Minh Anh » An toàn bức xạ trong chụp mạch can thiệp

An toàn bức xạ trong chụp mạch can thiệp

Đăng bởi Phuc Minh
an toan buc xa trong chup mach can thiep

An toàn bức xạ trong chụp mạch can thiệp hiện nay ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, vẫn cần phải phổ biến rộng rãi hơn nữa về những hiểu biết này. Nhất là cho những người làm việc trong phòng thông tim. Nơi hàng ngày, hàng giờ họ phải sử dụng tia X để chẩn đoán và điều trị bệnh lý tim mạch.

I. Một số khái niệm cơ bản

1 Gray (Gy) =  liều bức xạ hấp thụ năng lượng 1 J/kg trọng lượng cơ thể = 100 rads.

1 Sievert (Sv) = liều tương đương (measure dose equivalent): liều bức xạ gây tác động sinh học có hại đối với con người.

Liều tương đương hiệu dụng (effective dose equivalent): liều tia xạ gây tổn thương đặc hiệu đối với một cơ quan hoặc một bộ phận của cơ thể người. Đơn vị: Sv.  

II. Những nguy cơ của bức xạ tia X đối với nhân viên y tế khi quá liều quy định

Tác động sinh học của tia bức xạ phụ thuộc vào mức năng lượng cơ thể hấp thu. Và cơ quan hấp thụ năng lượng bức xạ.

Tác hại của bức xạ gây ra có thể bao gồm: ban đỏ; da bong vảy; glocome; giảm bạch cầu hạt; thiểu sản các cơ quan trong cơ thể; xơ hóa và hoạt tử vô khuẩn. Các tác hại này có thể xảy ra hay không phụ thuộc vào liều bức xạ hấp thụ, cường độ bức xạ và diện tích bị phơi nhiễm. Hậu quả càng nặng khi mức độ phơi nhiễm càng cao, liều chiếu tia càng lớn.

Tác động ở mức độ sinh học phân tử bao gồm ung thư và nguy cơ di truyền. Tác động này tăng lên với liều chiếu nhưng cường độ tác động không phụ thuộc vào liều hấp thu. Ví dụ: Ung thư gây ra bởi liều 100 rads không phải nguy hiểm hơn ung thư gây ra bởi liều 10 rads.

1. Ung thư

– Một số nghiên cứu của Nhật bản cho biết nguy cơ ung thư do nhiễm xạ toàn thân vào khoảng 0.04% / rem (4% / Sv) ghi nhận được ở các bệnh viện.

– Khuyến cáo liều an toàn cho các bác sĩ và nhân viên y tế trung bình dưới 5 rem (50 mSv)/năm đo ở phía ngoài yếm chì quấn cổ. Nên lưu ý là liều tương đương 5 rem (50 mSv)/năm được cộng thêm nguy cơ ung thư có thể xảy ra là 0,2 %/năm trong đời sống cộng đồng (nghiên cứu của Hoa Kỳ).

– Liều tương đương hàng năm của bác sĩ tim mạch can thiệp dùng tấm bảo vệ cổ là 3 rem (30 mSv). Liều tương đương tích lũy đo ngoài áo chì khoảng là 90 rem (900 mSv) trong vòng trên 30 năm. Như vậy, nguy cơ ung thư của họ trong cuộc sống nghề nghiệp là 3,6% (90 x 0,04%).

– Tay của bác sĩ tim mạch can thiệp bị chiếu tia nhiều nhất khi thông tim do tay ở gần chùm tia nhất. Tay thường ít được xác định mức phơi nhiễm tia. Trong một thời gian dài có thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Phần lớn các trường hợp xuất hiện sau khi bị chiếu xạ thời gian dài. Biểu hiện là bị viêm da kéo dài hàng năm do tia xạ.

– Bác sĩ khi chiếu tia cần chú ý bảo vệ bàn tay của mình. Găng tay chì chỉ giúp giảm 20% đến 30% phơi nhiễm tia X. Huấn luyện là chìa khóa giúp giảm sự hấp thụ chùm tia. Nếu tay người làm thủ thuật nhìn thấy rõ trên màn hình khi chiếu tia thì rất nên phải điều chỉnh kỹ thuật đang tiến hành.

2. Glocome

–  Glocome hình thành như hiệu ứng tất định do bức xạ gây ra. Mức độ nặng phụ thuộc vào liều hấp thụ và mức liều tích lũy. Tổng liều tích lũy có thể khá cao trong một thời gian dài.

– Đối với bác sĩ làm tim mạch can thiệp, mức liều tương đương được khuyến cáo đối với thủy tinh thể là dưới 15 rem/năm (150 mSv/năm). Và có thể đạt tới tổng liều 423 rem (4,5 mSv) đối với thủy tinh thể sau 30 năm làm việc.

–  Nguy cơ glocome do bức xạ đối với bác sĩ tim mạch và nhân viên trong phòng thông tim là không nhiều. Và có thể nói là thấp hơn so với các nguy cơ khác do tia X gây ra. Nhưng bảo vệ mắt cũng vẫn là yêu cầu cần thiết đối với người làm tim mạch can thiệp. Kính chì có thể giảm thiểu được nguy cơ hình thành glocome do tia X gây ra trong quá trình làm việc.

3. Nguy cơ đối với bào thai

Nếu không được bảo vệ an toàn bứcc xạ khi mang thai thì nữ nhân viên có nguy cơ xảy thai, thai nhi dị dạng, thai chậm phát triển cân nặng và tinh thần hoặc thai nhi có thể bị ung thư.

Liều chiếu bức xạ ước tính gây vô sinh (vĩnh viễn hoặc tạm thời) vào khoảng 500 rads. Thai lưu có thể xảy ra khi mức độ phơi nhiễm từ 10 – 50 rad (100 – 500 mGy). Liều tối đa cho phép đối với thai nhi của nhân viên y tế là 50 mrem (0.5 mSv) /tháng. Và liều tổng cộng trong cả thời gian có thai không quá 500 mrem (5 mSv). Nếu chấp nhận một liều là 3 mrem (0.030 mSv)/tuần đo bằng liều kế bên trong áo chì dày 0,5 mm. Thì mức tia cộng dồn trong 40 tuần mang thai khoảng 120 mrem (1.2 mSv). Và nguy cơ đối với thai nhi trong tử cung sẽ là 1/4166 (0,24%).

III. An toàn bức xạ trong chụp mạch can thiệp

1. Nguyên lý ALARA (as low as reasonably achievable)

– Nguyên lý an toàn bức xạ cơ bản là: Tăng khoảng cách so với nguồn phát tia; Giảm thời gian chiếu hoặc tiếp xúc; và sử dụng đồ bảo hộ bằng chì khi làm thủ thuật.

Nguyên lý bảo đảm an toàn bức xạ ALARA

1.1. Cường độ và năng lượng tia X

– Cường độ dùng để chỉ số lượng hạt photon của chùm tia X. Lượng hạt photon càng lớn thì cường độ tia X càng mạnh.

– Năng lượng của tia X quyết định khả năng đâm xuyên của chùm tia. Tính chất này được kiểm soát bởi hiệu điện thế của ống tia X. Tăng 15% kV tương ứng với tăng gấp đôi mAs.

1.2. Khoảng cách và cường độ

– Nếu khoảng cách đến nguồn chiếu tia tăng gấp đôi thì phơi nhiễm bức xạ tia X giảm đi 1/4.

1.3. Sự phát tán của chùm tia

–  Khi chiếu tia X vào bệnh nhân, hướng của chùm tia sẽ thay đổi và có thể có ở mọi hướng quanh bệnh nhân. Bức xạ tia X có thể đi ngược về phía ống tia X hoặc phát tán ra xung quanh.

– Yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phân tán của chùm tia là: kV và mA; độ mở của ống chuẩn trực; và khoảng cách giữa ống tia X và màn tăng sáng.

 2. Dụng cụ đo liều phơi nhiễm cá nhân

–  Liều kế cá nhân (personnel dosimetry monitors) hiện nay chủ yếu gồm 2 loại: Liều kế dùng nhiệt phát quang (thermoluminescent dosimeters – TLDs); Liều kế quang phát quang (Optically Stimulated Luminescence – OSL).

– Các tinh thể nguyên tử lithium fluoride rắn của TLD hấp thụ bứ xạ tia X. Các hạt electron của nó tăng lên theo trạng thái năng lượng cao sau khi bị chiếu bức xạ. Khi các tinh thể nóng lên, các hạt electron chuyển động và phát sáng. Số lượng tia sáng phát ra tỷ lệ với lượng tia mà tinh thể thu nhận được.

– Ưu điểm của liều kế TLD là có khả năng đáp ứng với nhiều mức năng lượng của tia X.

– Trong thực tế lâm sàng, một liều kế thường được gắn phía ngoài áo chì gần cổ (tầm ngưc). Ở vị trí này liều kế có thể phản ánh mức độ nhiễm tia của đầu, mắt và cổ. Điều quan trọng là liều tương đương ở mắt, tuyến giáp phải nằm trong giới hạn cho phép.

– 02 liều kế theo quy định: 01 đặt ở ngoài áo chì tầm ngực và 01 đặt ở phía trong áo chì gần vòng eo. Liều kế thứ 2 này cho biết hiệu quả của áo chì.

– Liều kế nhẫn (nhẫn kế hay vòng cổ tay kế) rất có ích đối với người làm y học hạt nhân. Khi tiêm chất phóng xạ vào cơ thể bệnh nhân cũng như người làm tim mạch can thiệp. Vì tay là phần cơ thể tiếp xúc gần nhất với chùm tia nên dễ bị phơi nhiễm nhất. 

3. Xử lý khi bị phơi nhiễm quá liều

Khi liều kế cho biết nhân viên y tế bị phơi nhiễm quá liều khuyến cáo. Thì phải xem xét lại trạng thái thiết bị của phòng tim mạch can thiệp và kỹ thuật thực hiện của nhân viên đó. Xác định lại thời gian chiếu tia của mỗi bệnh nhân. Từ đó có thể đánh giá, rút kinh nghiệm về nguyên nhân gây phơi nhiễm quá liều khuyến cáo.

Có thể tạm thời giảm hoặc dừng thời gian làm việc đối với nhân viên đó.  

IV. Phơi nhiễm tia X trong tim mạch can thiệp

1. Chiếu tia trong chẩn đoán và can thiệp tim mạch

– Phơi nhiễm tia X trung bình ở mỗi bệnh nhân chụp động mạch vành và can thiệp động mạch vành từ 4 – 16 rem (0.04 – 0.16 mSv) theo các số liệu thu được từ liều kế ở cổ.

– Sử dụng yếm chì có thể làm giảm tia xạ từ 3,3 mrem (0.033 mSv) xuống 1.4 mrem (0.014 mSv)/bác sĩ can thiệp mỗi tuần khi chụp ở tư thế chếch trước trái  LAO (left anterior oblique) (liều chiếu tia cao hơn so với chụp tư thế chếch trước phải RAO). Liều chiếu tia khi chụp LAO cao hơn từ 2,6 đến 6,1 lần khi chụp RAO.

–  Yếm chì dày dưới 0,5 mm chỉ cho lượng tia đia qua từ 1 – 2 mrem (0,01-0,02 mSv)/1 bệnh nhân chụp và can thiệp động mạch vành qua da. Có nghĩa là cản được gần 95% lượng tia xạ so với bên ngoài yếm chì.

– Dùng kính chì giảm được 2,6 mrem (0.026 mSv)/1 bệnh nhân can thiệp. Nghĩa là giảm được 35% lượng tia xạ mà mắt bị phơi nhiễm nếu không dùng kính chì.

–  Sử dụng các biện pháp kỹ thuật giảm chiếu tia như xem lại hình vừa chụp bằng cách ghi hình kỹ thuật số hoặc chiếu tia ngắt quãng trong quá trình làm việc.

– Liều bức xạ trung bình đo ở ngoài khăn che cổ bằng chì là 3 mrem (0,03 mSv) đỗi với mỗi ca can thiệp động mạch vành. Trong khi đó nếu đo lượng tia xạ dưới yếm chì chỉ là 0,5 mrem (0,005 mSv).

2. Phơi nhiễm tia xạ trong thăm dò điện sinh lý và cấy máy tạo nhịp

–  Ống chuẩn trực (collimation) phù hợp sẽ giúp giảm phơi nhiễm tia tới 40%.

–  Nếu đưa catheter vào tĩnh mạch dưới đòn thì nguy cơ phơi nhiễm tia cao hơn do tư thế bác sĩ gần với nguồn bức xạ hơn.

–  Liều tương đương hiệu dụng khi đốt điện (ablation) khi đưa catheter theo đường tĩnh mạch đùi là 1.8 mrem (0.018 mSv)/bệnh nhân trong thời gian chiếu tia tổng cộng là 55 phút.

–  Liều hiệu dụng là 2,8 mrem (0.028 mSv)/1 bệnh nhân can thiệp nếu bác sĩ không dùng khăn chì đeo cổ.

–  Nếu thực hiện tốt các biện pháp an toàn bức xạ tia X thì một bác sĩ điều trị RF cho 250 bệnh nhân/1 năm sẽ bị phơi nhiễm 423 mrem (4.5 mSv)/1 năm. Tương ứng với 9% liều giới hạn khuyến cáo đối với người làm trong phòng tim mạch can thiệp.  

–  Trong thăm dò điện sinh lý và cấy máy tạo nhịp, nói chung nên chiếu tia từ 5-10 phút hoặc có thể thấp hơn.

V. Khuyến cáo An toàn bức xạ trong chụp mạch can thiệp

1. Những yếu tố kỹ thuật

Những tiến bộ kỹ thuật giúp giảm thiểu phơi nhiễm tia X đối với bác sĩ và bệnh nhân như lưu hình động, nội soi huỳnh quang số xung, hình ảnh nét và có bộ lọc nhiễu…

2. Với người thực hiện kỹ thuật

– Nội soi huỳnh quang số xung (Pulsed digital fluoroscopy) có thể giảm được gần 50% lượng tia phát ra so với chiếu tia liên tục.

– Thực hiện lưu hình và lưu ảnh sau cùng để có thể xem lại mà không cần phải chiếu tia.

– Phóng to hình chỉ nên thực hiện khi thực sự cần thiết.

– Vận dụng tốt luật bình phương khoảng cách để làm giảm thiểu phơi nhiễm tia đối với nhân viên y tế khác. Nếu có thể nên cách xa bệnh nhân tối thiểu 2,4m.

3. Phương tiện bảo hộ

–  Những người làm tim mạch can thiệp phải trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ: áo chì, yếm chì, khăn chì quàng cổ, kính chì…

– Áo chì và khăn quàng chì nên được kiểm tra ít nhất mỗi năm 1 lần.

– Nên có riềm chắn chì ở bàn can thiệp và sử dụng kính chắn trần bằng chì để giảm thiểu phơi nhiễm tia X đối với lồng ngực và đầu người làm can thiệp. Có thể giảm đến 90% lượng tia chiếu vào các bộ phận này.

VI. Kết luận

–  Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tim mạch can thiệp sử dụng tia X ngày càng phát triển. Số lượng phòng thông tim ngày một nhiều hơn. Nhằm phục vụ số lượng bệnh nhân điều trị bằng phương pháp tim mạch can thiệp ngày một tăng. Nhân viên làm trong phòng thông tim cũng nhiều hơn. Do đó, những nguyên tắc và kiến thức về an toàn bức xạ. Nhằm giảm thiểu mức độ phơi nhiễm bức xạ đối với nhân viên cũng như bệnh nhân ngày càng cần được chú trọng.

–  Những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ trong phòng thông tim và tính chất phức tạp của bệnh nhân ngày một tăng lên đã cho thấy bảo vệ bức xạ là một trong những công tác hết sức quan trọng trong thực hành tim mạch.

–  Thực hiện tốt những quy định về an toàn bức xạ là vì lợi ích của chính bản thân mình và của cả cộng đồng.

– Tương lai sẽ có những nghiên cứu mới để giảm thiểu mức độ phơi nhiễm tia X đối với nhân viên cũng như bệnh nhân tim mạch.

VII. Tài liệu tham khảo An toàn bức xạ trong chụp mạch can thiệp

  1. American College of Cardiology: ACC expert consensus document. Radiation safety in the practice of cardiology.J Am Coll Cardiol 1998;31;892-913
  2. Committee on the Biological Effects of Ionizing Radiation (BEIR V): Health effects of exposure to low levels of ionizing radiation. National Academy of Science. Washington (DC): National Research Council, 1990.
  3. Den Boer A, de Feyter PJ, Hummel WA, Keane D, Roelandt JR. Reduction of radiation exposure while maintaining high-quality fluoroscopic images during interventional cardiology using novel x-ray tube technology with extra beam filtering. Circulation 1994;89:2710–4.
  4. Johnson LW, Moore RJ, Balter S. Review of radiation safety in the cardiac catheterization laboratory. Cathet Cardiovasc Diagn 1992;25:186 –94.
  5. National Council on Radiation Protection and Measurements. Use of personal monitors to estimate effective dose equivalent and effective dose to workers for external exposure to LOW-LET Radiation. Bethesda (MD): NCRP, 1995; NCRP Report No. 122.
  6. Pitney MR, Allan RM, Giles RW, et al. Modifying fluoroscopic views reduces operator radiation exposure during coronary angioplasty. J Am Coll Cardiol 1994;24:1660 –3.

(Tham khảo)


Liên hệ triển khai Dịch vụ an toàn bức xạkiểm định thiết bị bức xạ trong y tế:

Công ty CP Dịch vụ Công nghệ và Đào tạo Phúc Minh Anh (PMA)

Hotline: 08897189880973145129

Email:  phucminhanh68@gmail.com; info@phucminhanh.com.vn

Có thể bạn quan tâm

Bình Luận

error: Nội dung đã được bảo vệ !