Công ty CP Dịch vụ Công nghệ và Đào tạo Phúc Minh Anh » Yêu cầu quản lý và hiện trạng công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các cơ sở xạ trị

Yêu cầu quản lý và hiện trạng công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các cơ sở xạ trị

Đăng bởi Phuc Minh
Yêu cầu quản lý và hiện trạng công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các cơ sở xạ trị

Hiện nay, nhu cầu điều trị ung thư bằng các kỹ thuật xạ trị tại Việt Nam đang ngày một tăng cao. Song song với đó, công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các cơ sở xạ trị đã được chứng minh là đặc biệt quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả trong điều trị.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh ung thư cao trên thế giới. Số lượng người mới mắc bệnh ung thư không ngừng tăng theo từng năm. Và một tỷ lệ rất lớn trong số đó đã tử vong. Theo thống kê của Tổ chức Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), năm 2018 tại Việt Nam có khoảng 165.000 ca ung thư mới mắc, gần 115.000 trường hợp tử vong và hơn 300.0000 người đang phải chung sống với căn bệnh ung thư [1].

Có nhiều phương pháp được áp dụng để chẩn đoán và điều trị ung thư. Trong đó, hơn 50% số người bệnh ung thư ở nước ta được chỉ định xạ trị. Kỹ thuật xạ trị đưa một liều lượng phóng xạ tương đối chính xác tới một thể tích bia xác định. Kết quả sẽ loại trừ bệnh tật, kéo dài được sự sống hay cải thiện chất lượng cuộc sống. Tóm lại, kỹ thuật xạ trị được xây dựng để chữa bệnh. Hay làm nhẹ bớt những biểu hiện của bệnh một cách hiệu quả.

Tại Việt Nam, các cơ sở y tế đã và đang tăng cường nguồn nhân lực, trang thiết bị. Qua đó cải thiết chất lượng điều trị cho các bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân ung thư. Một số cơ sở y tế đã trang bị thêm các thiết bị như:

  • Các máy gia tốc tuyến tính hiện đại;
  • Thiết bị xạ trị áp sát suất liều cao sử dụng nguồn phóng xạ Ir-192 và Co-60;
  • Thiết bị cấy vĩnh viễn hạt phóng xạ I-125.

Đăng ký tham gia lớp Đào tạo An toàn bức xạ trong y tế

Nhìn chung, lĩnh vực xạ trị đã có những tiến bộ đáng kể. Loại bỏ dần việc xạ trị ngoài bằng các máy Co-60 cũ. Và tăng cường áp dụng kỹ thuật xạ trị áp sát suất liều cao bằng nguồn phóng xạ Ir-192 và Co-60. Một số kỹ thuật xạ trị hiện đại như: Kỹ thuật xạ trị ba chiều theo hình dạng khối u. Mở rộng ứng dụng hình ảnh CT, mô phỏng trong lập kế hoạch xạ trị kể cả kỹ thuật theo kích thước khối u 3D đã được áp dụng ở hầu hết các cơ sở xạ trị trong cả nước.

Bên cạnh những thành tựu to lớn mà bức xạ ion hoá đem lại trong chẩn đoán và điều trị, vẫn còn có những bất cập trong công tác quản lý tại các cơ sở xạ trị, việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cũng như các hệ thống văn bản pháp quy cần được quan tâm và tháo gỡ để nâng cao chất lượng của việc chẩn đoán, điều trị bệnh nhân ung thư đóng góp chung vào sự  phát triển của đất nước [2].

Thiết bị xạ trị

2. Thực trạng công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các cơ sở xạ trị

Theo số liệu thống kê của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) tính đến tháng 12/2019. Nước ta có 65 máy gia tốc tuyến tính, 23 thiết bị xạ trị sử dụng nguồn phóng xạ trong đó:

  • 09 thiết bị xạ trị từ xa sử dụng nguồn Co-60 (01 thiết bị xạ thị Co-60 thông thường; 08 thiết bị xạ trị Gamma Knife)
  • Và 14 thiết bị xạ trị áp sát.

Các thiết bị xạ trị phân bố ở 3 miền đất nước (chủ yếu ở miền Bắc và miền Nam). Về cơ bản, các thiết bị xạ trị đã góp phần điều trị hiệu quả bệnh ung thư. Các cơ sở xạ trị ngoài việc nâng cao chất lượng trong công tác điều trị. Cần phải thực hiện các biện pháp để đảm bảo an toàn bức xạ cho công chúng và nhân viên vận hành theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, công tác đảm bảo an toàn tại các cơ sở xạ trị hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Cụ thể như sau:

a) Cơ sở vật chất

Hiện nay, nước ta có rất ít cơ sở xạ trị có khả năng chẩn đoán và điều trị ung thư một cách toàn diện. Bao gồm:

  • chẩn đoán hình ảnh;
  • y học hạt nhân;
  • điều trị phẫu thuật;
  • hóa trị và xạ trị.

Đa phần các cở sở này tập trung tại các thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với các cơ sở khác, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế. Chủ yếu chỉ đáp ứng được một phần về nhu cầu khám chữa bệnh và điều trị cho bệnh nhân. Đa phần khu vực xạ trị được sửa chữa, cải tạo từ những khu vực cũ (thiết kế với mục đích khác). Không có một sự đầu tư bố trí bài bản từ đầu. Gây nhiều khó khăn trong việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các Bệnh viện.

Ngoài ra, nhiều cơ sở xạ trị vẫn chưa có máy gia tốc tuyến tính. Cá biệt, một vài cơ sở vẫn còn phải sử dụng máy Co-60 đã quá cũ, công nghệ lỗi thời  dẫn đến còn hạn chế trong đảm bảo chất lượng điều trị và công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các Bệnh viện

b) Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực cho xạ trị tại nước ta còn thiếu, trình độ không đồng đều. Nhất là cán bộ có thể đảm nhiệm các chức năng khám chữa bệnh với kỹ thuật cao, hiện đại. Hiện nay, chưa có hệ thống đào tạo chuyên ngành xạ trị, y học hạt nhân một cách đầy đủ. Đặc biệt là đào tạo ngành chuyên sâu về xạ trị. Bên cạnh đó, hiện nay vẫn chưa có chương trình đào tạo chính thức cán bộ vật lý, kỹ thuật viên theo yêu cầu thực tế.

Theo quy định của Thông tư 34/2014/TT-BKHCN “Quy định về đào tạo an toàn bức xạ đối với nhân viên bức xạ, người phụ trách an toàn và hoạt động dịch vụ đào tạo an toàn bức xạ“. Tại các cơ sở xạ trị nhân viên vận hành thiết bị xạ trị phải được đào tạo về đảm bảo an toàn trong xạ trị. Tuy nhiên, nội dung đào tạo chỉ đề cập đến khía cạnh an toàn chung. Chưa tập trung vào đánh giá và hướng dẫn đảm bảo an toàn đối với các công việc, loại hình xạ trị cụ thể.

Đăng ký tham gia lớp Đào tạo An toàn bức xạ trong y tế

Các cơ sở xạ trị đã trang bị các thiết bị để thực hiện chương trình kiểm soát và đảm bảo chất lượng (QA/QC). Tuy nhiên, các kỹ sư vật lý, kỹ thuật viên tại các cơ sở xạ trị tuyến địa phương đa phần chưa có nhiều kinh nghiệm vận hành thực tiễn. Dẫn đến nhiều lúng túng trong thời gian đầu thực hiện chương trình này. Bên cạnh đó, các bệnh viện tuyến địa phương cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Ví dụ như: kỹ sư vật lý; nhân viên vận hành, gây ảnh hưởng đến chất lượng điều trị các bệnh nhân ung thư.

Tại nước ta đến nay chưa có quy định về vị trí việc làm và yêu cầu về chuyên môn của cán bộ vật lý y học trong các cơ sở y tế. Cán bộ vật lý y học tại các cơ sở y tế chủ yếu là tự đào tạo. Hoặc đào tạo qua truyền đạt kinh nghiệm từ người đi trước. Đây là hạn chế của đội ngũ cán bộ vật lý y học hiện nay. Vấn đề đào tạo bài bản, cấp chứng chỉ hành nghề. Và chuẩn hóa chức danh kỹ sư vật lý y học chưa được đề cập trong văn bản pháp luật.

Do đó, cần tiến tới đảm bảo các cơ sở sử dụng bức xạ trong y tế nhất là các cơ sở xạ trị phải có đủ số cán bộ vật lý đã qua đào tạo cơ bản, chính quy để trở thành những cán bộ vật lý y học có trình độ góp phần nâng cao công tác đảm bảo an toàn bức xạ tại các cơ sở xạ trị

c) Kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị xạ trị

Ở nước ta hiện nay, số lượng các đơn vị có năng lực hiệu chuẩn, kiểm định thiết bị xạ trị còn hạn chế chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ kiểm định đánh giá chất lượng thiết bị xạ trị hiện chỉ có 02 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN): về kiểm định máy gia tốc trong xạ trị tuyến tính; và thiết bị xạ trị áp sát nạp nguồn sau bằng điều khiển từ xa.

Việt Nam vẫn chưa có QCVN kiểm định các thiết bị xạ trị công nghệ cao hay các thiết bị xạ trị quen thuộc như Gamma Knife, Cyber Knife…vv. Đây là một trong những nội dung quan trọng để nâng cao chất lượng của các thiết bị xạ trị. Qua đó nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân. Ngoài ra, nước ta chưa có quy định cụ thể về việc đánh giá liều trong xạ trị. Các cơ sở đa phần thực hiện việc chuẩn liều xạ trị theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Chưa có một quy định cụ thể làm căn cứ để thực hiện việc đánh giá liều này.

d) Chương trình đảm bảo chất lượng

Chương trình đảm bảo chất lượng liên quan đến việc đánh giá và cải thiện chất lượng điều trị. Hoặc sự đảm bảo tuân thủ của các cơ sở theo các tiêu chuẩn nhất định. Tại nước ta, theo quy định của Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT, các cơ sở chiếu xạ y tế phải thiết lập chương trình đảm bảo chất lượng nhằm mục đích nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị bệnh nhân. Tuy nhiên, nội dung chương trình chưa cụ thể hoá và quy định rõ căn cứ đánh giá. Do vậy, đa phần cơ sở xạ trị gặp lúng túng, khó khăn khi xây dựng chương trình đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, do chưa ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể. Nên cơ quan quản lý nhà nước cũng gặp khó khăn khi hướng dẫn cơ sở xạ trị thực hiện.

Tóm lại, nội dung chương trình đảm bảo chất lượng trong các cơ sở chiếu xạ y tế nói chung và cơ xạ xạ trị nói riêng cần được xây dựng cụ thể đối với từng loại thiết bị xạ trị làm căn cứ cho việc đánh giá, cải thiện chất lượng điều trị của các bệnh viện.

An toàn bức xạ cơ sở xạ trị

3. Kiến nghị và đề xuất

Để nâng cao chất lượng điều trị và đảm bảo an toàn tại các cơ sở xạ trị. Cục ATBXHN và các cơ sở xạ trị cần phải thực hiện các nội dung sau:

a) Đối với cơ sở xạ trị

– Tăng cường đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ bác sỹ, kỹ sư, kỹ thuật viên xạ trị. Đặc biệt chú ý trau dồi, cập nhật các công nghệ, kỹ thuật mới;

– Tham gia vào các hệ thống về xạ trị của quốc tế. Đặc biệt là hệ thống báo cáo sự cố trong xạ trị SAFRON (Safety in Radiation Oncology) [3].

b) Đối với Cục ATBXHN

Cục ATBXHN ngoài việc nâng cao chất lượng thẩm định, cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ. Cần xây dựng, bổ sung một số quy định pháp luật liên quan tới xạ trị cụ thể:

– Xây dựng hướng dẫn, yêu cầu cụ thể về chương trình đảm bảo chất lượng trong hoạt động xạ trị;

– Xây dựng quy định, yêu cầu về đánh giá an toàn cho các kỹ thuật mới trong xạ trị (kỹ thuật mới bao gồm: Xây dựng cơ sở, lắp đặt phần cứng và phần mềm mới; Nâng cấp công nghệ hiện có để cung cấp chức năng mới; Những thay đổi lớn trong kỹ thuật điều trị và thay đổi phương pháp điều trị để giảm liều hấp thụ);

– Phối hợp, xây dựng giáo trình đào tạo chuyên môn nghiệp vụ ở các cơ sở xạ trị. Ngoài ra, phối hợp với Bộ Y tế xây dựng quy định về đảm bảo an toàn liều chiếu cho bệnh nhân khi xạ trị.

4. Tài liệu tham khảo

[1]     International Agency for Research on Cancer (IARC), 2019.

https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/populations/704-viet-nam-fact-sheets.pdf

[2]    Y học hạt nhân và kỹ thuật xạ trị, Nguyễn Thái Hà, Nguyễn Đức Thuận, Nhà xuất bản Bách Khoa – Hà Nội, 2006.

[3]    https://www.iaea.org/sites/default/files/safron-august2016.pdf.


Liên hệ triển khai Dịch vụ đảm bảo an toàn bức xạ:

CÔNG TY CP DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ VÀ ĐÀO TẠO PHÚC MINH ANH

Hotline: 08897189880973145129

Email:  phucminhanh68@gmail.com; info@phucminhanh.com.vn

Nguồn: www.varans.vn

Có thể bạn quan tâm

Bình Luận

error: Nội dung đã được bảo vệ !